Tổng Quan Về Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Nhận Thức Ở Trẻ Nhỏ

Tổng Quan Về Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Nhận Thức Ở Trẻ Nhỏ

Nhận thức là tổ hợp phức tạp của nhiều tiến trình nhận thức có sự liên hệ mật thiết với nhau được hình thành mạnh nhất trong 5 năm đầu đời của bé để cấu thành khả năng nhận thức nhất định. Dù rằng quá trình nhận thức bị chi phối mạnh mẽ bởi cả các yếu tố nội sinh lẫn ngoại sinh, sự phát triển của khoa học đã cho phép tác động nhất định đến quá trình nhận thức của bé với sự tham gia tích cực và chủ động của các ba mẹ thông thái. Dù vậy, trẻ em sinh ra và lớn lên ở phương Đông (trong đó có Việt Nam) và phương Tây (bao gồm cả Anh và Úc) vẫn có những sự khác biệt cơ bản. Do vậy, các bậc ba mẹ cần quan tâm để bổ khuyết cho con mình giúp phát huy lợi thế và bổ khuyết vào những hạn chế so với bạn bè quốc tế.

NHẬN THỨC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHẬN THỨC Ở TRẺ

Giai đoạn từ 0 đến 5 tuổi là giai đoạn phát triển nhận thức quan trọng nhất của bé tuổi đầu đời [1]. Có hai cách hiểu phổ biến về “nhận thức” (cognition):

 

Thứ nhất, nhận thức đôi khi được coi như một trạng thái tích lũy của hiểu biết hay phản ứng với môi trường tự nhiên, xã hội xung quanh. Cách hiểu này có lợi thế là cho phép kết nối nhận thức với kiến thức, vốn có thể học được từ truyền thống hay trường học và vì vậy có khả năng được nâng cao nếu được hướng dẫn đúng.

Bên cạnh cách hiểu nhận thức là những trạng thái, cách hiểu thứ hai, và được giới khoa học công nhận rộng rãi, cho rằng nhận thức (thay vì là một trạng thái có thể đạt tới) thì nhận thức là một tổ hợp phức tạp gồm nhiều tiến trình nhận thức (cognitive process) có liên hệ mật thiết đến sức khoẻ sinh lý, tinh thần, hành vi và tâm lý của bé. Các tiến trình nhận thức trên thực tế xây dựng nên một số khả năng nhận thức (cognitive ability) ở bé.

Cụ thể, theo Maria Klatte và Thomas Lachmann- 2 nhà khoa học về nhận thức của trường đại học Kaiserslautern (Đức) thì các tiến trình nhận thức thiết yếu bao gồm:

Sáu tiến trình nhận thức của bé
Sáu tiến trình nhận thức trên có liên hệ mật thiết với nhau. Chẳng hạn như, bé không thể học mà không có sự tham gia của ngôn ngữ, trí nhớ, khả năng suy luận và sự chú ý nhất định.

CÁC HIỂU NHẦM THƯỜNG GẶP

Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ, do vậy, nhiều người xét đoán sai lầm quá trình nhận thức của trẻ em theo lối tư duy trắc viễn (teleological thinking) dẫn đến 5 hiểu nhầm phổ biến [3]:

  • Đến một lúc nào đó trong hoàn cảnh nào đó thì gen của con người sẽ được kích hoạt, khi đó tế bào sẽ phát triển đột biến;

  • Các cá thể là hoàn toàn khác biệt dù về các đặc điểm thể chất cho dù thuộc cùng một nguồn gốc, địa phương;

  • Nếu ta để trẻ một mình, trẻ sẽ tự phát triển các đặc trưng để phù hợp với môi trường mình sinh sống;

  • Các cá thể có biểu hiện thể chất và nhận thức khác nhau thì phần nhiều là do các đặc trưng di truyền có sẵn như một định mệnh;

  • Một sự biến đổi nhỏ về gen sẽ dẫn đến một loại biểu hiện thể chất và nhận thức hoàn toàn mới

  • Số phận con người bị định đoạt bởi gen và không thể cải thiện.

  • Tâm lý, nhận thức là chuyện nhỏ, mình có thể tự chẩn đoán và điều trị.

Các hiểu biết sai lầm trên có thể đúng phần nào ở góc nhìn chọn lọc tự nhiên hay thuyết Darwin xã hội. Song các khả năng nhận thức đạt được dù có thể đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống nhất thời, nhưng khó có thể nói là con đường phát triển tối ưu nhất để phát huy tất cả tiềm năng của bé. Ngoài ra, quan trọng hơn nữa là lối tư duy rằng gen là định mệnh chi phối quá trình nhận thức và tâm lý của con người là nguy hiểm vì chúng yếm thế và triệt tiêu nỗ lực cá nhân.

Như vậy, di truyền và điều kiện môi trường không phải là hai yếu tố duy nhất quyết định sự phát triển nhận thức của bé, vì nói thế thì những bé sinh ra và lớn lên trong những môi trường tương tự phải có sự phát triển nhận thức tương tự nhau. Song, thực tế là các bé thường có sự phát triển nhận thức đa dạng, ít nhất là ở biểu hiện bên ngoài và thành quả cuối cùng.  Do đó, ở đây đã có những yếu tố khác với những tác động nhất định bao gồm nội sinh và ngoại sinh.

CÁC YẾU TỐ NỘI SINH

Nội sinh là các yếu tố khung theo cùng bé khi chào đời mà bé có được hay tiếp xúc thụ động.  Các yếu tố nội sinh dễ thấy nhất bao gồm: yếu tố di truyền, tính cách và các khiếm khuyết thân thể ( đặc biệt là thần kinh và tuần hoàn) mà bé có thể mắc phải do di truyền hay chấn thương không mong đợi (ví dụ như khiếm thính, khiếm thị, tự kỷ, chậm phát triển trí tuệ, khó khăn về vận động, khó khăn về ngôn ngữ, hay một dạng khuyết tật khác).

Trước hết phải nói rõ ràng rằng việc mang khiếm khuyết chắc chắn không phải là điều bé mong muốn và thường không phải do lỗi của bé. Vì thế, trước tiên ba mẹ không được xem bé là cội nguồn khó khăn mà mình gặp phải. Thay vào đó, ba mẹ hãy là người đồng hành tin cậy và là điểm tựa vững chắc cho bé những lúc vấp ngã.

Các yếu tố nội sinh như di truyền và khuyết tật là khá phức tạp và khó có thể cải thiện, do vậy, cách xử lý tốt nhất là liên hệ các cơ quan, tổ chức bảo trợ như Quỹ Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam[10],...)

Một số ba mẹ  có tâm lý buông xuôi khi thấy con mình bị chịu ảnh hưởng của các yếu tố nội sinh như đã nêu trên, song khoa học đang có nhiều nghiên cứu dù khó có thể chữa lành hoàn toàn nhưng đã có thể cải thiện phần nào tình trạng của bé khi bị tác động bởi các vấn đề nội sinh với các phương pháp vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, y học cổ truyền không mấy tốn kém.

Vì các yếu tố nội sinh xuất phát và hiện hữu ngay chính bên trong mỗi bé, nên điểm tích cực là có thể giải quyết phần nào ngay từ bên trong, như tâm lý, sự yêu thương, chăm sóc, song cần có sự kiên trì, nghị lực và kỷ luật cả từ bé và ba mẹ. Quan trọng nhất, ba mẹ cần phải bình tĩnh và sáng suốt để tránh xa  những cách làm phi khoa học, mê tín dị đoan.

CÁC YẾU TỐ NGOẠI SINH

Trong khi các yếu tố nội sinh nảy sinh nội tại từ trong từng bé, các yếu tố ngoại sinh thường đến từ môi trường tự nhiên, điều kiện chăm sóc, học tập, bao gồm gia đình, anh chị em, các mối quan hệ thân cận, yếu tố truyền thống,văn hoá, tập quán địa phương.

Một ví dụ điển hình của sự khác biệt về nhận thức là việc cảm nhận màu sắc là khác nhau giữa các cá nhân tùy thuộc vào môi trường thị giác mà con người tiếp xúc (cả với trẻ em và người lớn[4]. Cụ thể, người sống ở môi trường có màu sắc đa dạng có khả năng cảm nhận, phân biệt màu sắc tốt hơn những người ở môi trường màu sắc đồng nhất ít có sự thay đổi. Một ví dụ thực tế nữa là trẻ lớn lên trong môi trường bạn bè thô bạo, văng tục, dân trí thấp thì cũng có xu hướng nhận thức ngôn ngữ học tập và hành vi tương ứng theo kiểu"gần mực thì đen, gần đèn thì rạng" .

Tuy rằng các yếu tố ngoại sinh hiển nhiên tác động đến nhận thức của  con người nói chung và trẻ nhỏ nói riêng, song do chúng là những yếu tố do ngoại sinh nên cũng có thể vì những tác động bên ngoài mà thay đổi. Ví dụ như nhiều ba mẹ đã quyết định chuyển nhà vài lần để tìm được môi trường sống tốt cho con, dù không phải ai cũng phù hợp với cách này.

Hai cách thức cơ bản tác động đến các yếu tố ngoại sinh ảnh hưởng đến bé bao gồm:

  • Hạn chế tiếp xúc với nguồn lực gây hại: cách ly với con người và nguồn lực gây hại như bạn xấu, môi trường ô nhiễm, độc hại.

  • Tăng cường tiếp xúc với nguồn lực có lợi: chọn môi trường giáo dục tốt, lành mạnh và toàn diện.

Song, công bằng mà nói thì không phải cứ tiếp xúc nhiều với môi trường trình độ cao thì bé sẽ được nâng cao nhận thức. Ví dụ như nhiều gia đình trí giả vẫn gặp không ít khó khăn trong việc hình thành nhận thức tốt cho con. Như vậy, cần tạo môi trường vừa tốt, vừa đủ cho con mới đảm bảo sự phát triển nhận thức được nâng cao bền vững và lành mạnh.

SỰ KHÁC BIỆT ĐÔNG-TÂY

Sự phát triển nhận thức khác biệt ở các cá nhân thuộc nhiều nền văn hoá khác nhau đã được biết đến tổng quát ở người lớn và trẻ em [5]. Cụ thể sự nhận thức của người lớn từ Phương Đông thường dựa trên sự tương quan và tính tương đối, chi tiết và sự liên hệ (relative); trong khi người phương Tây cho thấy sự tập trung mạnh hơn đến đối tượng cụ thể.

Ngoài sự khác biệt về khả năng tập trung, cộng đồng khoa học cũng đã chỉ  ra sự khác biệt Đông Tây trên nhiều phương diện nhận thức khác như nhận thức về không gian [6], xu hướng ngôn ngữ và xã hội [7] và cảm xúc [8], ý niệm về sáng tạo (theo Kaufman và Sternberg từ đại học Connecticut Cornell- Hoa Kỳ).

Chúng ta cùng bàn sâu hơn về sự hạn chế về khả năng tập trung và các tiến trình nhận thức khác của trẻ nhỏ trong bài sau cũng trong loạt bài này trên Smiley.vn.

Tuy những khác biệt trên tồn tại đã nhiều thế hệ, chúng vẫn có thể được ba mẹ bổ khuyết để hạn chế các điểm hạn chế. Tinh thần chung là ba mẹ cần phát huy các điểm mạnh của bé và đầu tư cho bé bù đắp các điểm yếu mà các nghiên cứu trên đã chỉ ra. Lý tưởng nhất là ba mẹ có thể giúp bé phát triển toàn diện cả khả năng tập trung, nhận thức không gian, xu hướng ngôn ngữ, xã hội cùng với ý niệm và sáng tạo. Khi đó, hiển nhiên sự phát triển của bé sẽ là vẹn tròn nhất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[4] Bosten, Jenny M. “"Do you see what I see? Diversity in human color perception.” Annual review of vision science, vol. 8, 2022, pp. 101-133, https://www.annualreviews.org/doi/full/10.1146/annurev-vision-093020-112820. Accessed 2 5 2023.

[1] Carson, Valerie, and Trina Hinkley. “Systematic review of physical activity and cognitive development in early childhood.” Journal of Science and Medicine in Sport, vol. 19, no. 7, 2016, pp. 573-578. Elsevier, https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S1440244015001462?casa_token=jx9EMCueV_AAAAAA:v9zvjN-voDhUv9ojC5SOH_fQ4KPHVQlqTx2Bjb05rheOd9CoYyDyxAQYm4ypPbWhd88SCeg.

[3] Coley, John D., and Kimberly D. Tanner. “Common Origins of Diverse Misconceptions: Cognitive Principles and the Development of Biology Thinking.” Life Sciences Education, vol. 11, no. 3, 2012, pp. 209–215, https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3433289/. Accessed 1 05 2023.

[10] “Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi Việt Nam.” Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi Việt Nam, Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi Việt Nam, 2 5 2023, asvho.vn. Accessed 2 5 2023.

[9] Kaufman, James C., and Robert J. Sternberg, editors. The Cambridge Handbook of Creativity. Second Edition ed., Cambridge, Cambridge University Press, 2019. The Cambridge Handbook of Creativity, https://www.cambridge.org/ie/academic/subjects/psychology/cognition/cambridge-handbook-creativity-2nd-edition?format=HB&isbn=9781107188488. Accessed 4 May 2023.

[2] Klatte, Maria, and Thomas Lachmann. “Does noise affect learning? A short review on noise effects on cognitive performance in children.” Frontiers in psychology, vol. 4, no. 3389, 2013, p. 578, https://www.frontiersin.org/articles/10.3389/fpsyg.2013.00578/full. Accessed 1 05 2023.

[5] Kuwabara, Megumi, and Linda B Smith B. Smith. “Cross-cultural differences in cognitive development: attention to relations and objects.” Journal of Experimental Child Psychology, vol. 113, no. 1, 2012, pp. 20-35. Cross-cultural differences in cognitive development: attention to relations and objects, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/22677459/. Accessed 3 5 2023.

[8] Lim, Nangyeon. “Cultural differences in emotion: differences in emotional arousal level between the East and the West.” Integrative Medicine Research, vol. 5, no. 2, 2016, pp. 105-109. Cultural differences in emotion: differences in emotional arousal level between the East and the West, https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2213422016300191. Accessed 4 5 2023.

[6] Majid, Asifa, and Stephen C. Levinson C. Levinson. “Can language restructure cognition? The case for space.” Trends in cognitive sciences, vol. 8, no. 3, 2004, pp. 108-114. Can language restructure cognition? The case for space, https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1364661304000208. Accessed 4 5 2023.

[7] Varnum, Michael E. W., and Richard E. Nisbett. “The Origin of Cultural Differences in Cognition: TheSocialOrientationHypothesis.” CurrentDirectionsinPsychological Science, vol. 19, no. 1, 2010, pp. 9-13. The origin of cultural differences in cognition: The social orientation hypothesis, https://journals.sagepub.com/doi/pdf/10.1177/0963721409359301. Accessed 4 5 2023.

 

← Bài trước